Không Còn Vọng Tưởng
Thất na thất na. Câu chú này được dịch là đại trí huệ cũng dịch là hoằng thệ nguyện, đây là bảo cảnh thủ nhãn ấn pháp. Bảo cảnh được ví như đại viên cảnh trí của chư Phật. Đại trí huệ là gì? Đó là khi chúng sinh không còn dính mắc vào vọng tưởng nữa, có đại trí huệ thì mỗi niệm đều là biểu hiện của trí bát nhã, mỗi tâm nguyện đều lưu xuất từ đại quang minh.
Nếu quý vị có trí huệ chân chính thì sẽ có được quang minh, còn nếu chưa thể nhập trí tuệ tự tánh thì vẫn còn trong màng tối tăm của vô minh. Quang mình là ánh sáng dương còn bóng tối vô minh là âm, tại sao người ta ngủ tối? Bởi vì lực âm trồi lên quá mạnh. Do đâu người ta có trí tuệ sáng suốt? Bởi vì ánh sáng dương lớn mạnh hơn.
Những người có trí tuệ không có lối suy nghĩ như những kẻ phàm phu, họ có khá năng phân biệt rõ ràng chính tà, họ không cần phải hỏi người khác, họ biết mọi đường ngay nơi tự thân của mình, họ không đi vào con đường tẻ, họ bước đi vào ngay chính lộ và hạ thủ công phu. Trong khi hành trì trước tiên quý vị phải đạt được trí tuệ rồi quý vị mới biết rõ ràng chính tà để rồi mới tiến vào con đường chánh lộ và tránh con đường tà dại.
Nhưng quý vị không thể nào biết rõ việc làm nào hư ngụy nên cứ mãi khăng khăng tạo nghiệp ác, quý vị không thể nào biết được rõ ràng thế nào là phạm giới nên cứ thế mà làm, ráng hết sức để làm cho được, cứ muốn nhìn cho được dù thực sự đó là những thứ chướng ngại. Những hành vi như thế là sự ngu muội tột cùng biểu lộ hoàn toàn sự non yếu trí tuệ.
Ồ không, quý vị có thể phản đối tôi là người có trí tuệ, tôi chỉ sai lầm trong nhất thời thôi. Chỉ sai lầm một lần thôi cũng có nghĩa là vô minh không có trí tuệ rồi. Người có đại trí tuệ không hề có tư tưởng sai lầm, thế nên tôn giả Anan đã phát nguyện, tiêu ngã ức kiếp điên đảo tưởng bất lịch tăng kỳ hoạch pháp thân.
Nghĩa là giúp cho con tiêu trừ vọng tưởng sai lầm trong muôn ức kiếp, khiến cho con chẳng trải qua a tăng kỳ kiếp mà chứng ngộ được pháp thân, tôn giả đã phát nguyện tiêu trừ vọng tưởng không những chỉ một hai ba bốn năm hay 100 kiếp nhưng trong vô số kiếp. Nhưng tại sao trong tâm ta lại có quá nhiều vọng tưởng như thế?
Khi một vọng tưởng đi qua vọng tưởng khác kế tiếp theo, và khi vọng tưởng ấy tiêu mất vọng tưởng sau lại sinh khởi tiếp nối. Giống như sóng trên mặt biển, quý vị cứ nghĩ rằng đại dương là vật vô tình nhưng thực sự nó chẳng phải là thứ ngoài tâm quý vị mà có, biển cả cũng được lưu xuất từ trong tâm niệm của chúng sinh, sóng biển không ngừng nổi lên rồi chìm xuống cũng hoàn toàn giống như vọng tưởng của chúng sanh chẳng bao giờ ngừng.
Nó liên tục mãi, vọng tưởng trước vừa biến mất vọng tưởng sau liền tiếp nối, vọng tưởng này tiếp nối vọng tưởng kia xoay dần tương tục nối theo nhau không dứt như dòng thác không bao giờ ngừng, không có vọng tưởng nào muốn rơi lại đằng sau cả. Chúng đều hoàn toàn muốn phóng vọt lên phía trước, vì sao mà quý vị lại mắc phải quá nhiều vọng tưởng như vậy?
Chỉ vì không có trí tuệ, nếu quý vị có trí tuệ thì chẳng còn mảy may vọng tưởng và sóng cũng không còn xao động nữa. Như trong câu thơ, thanh phong đồ lai thủy ba bất hưng, nghĩa là gió trong lành thổi đến biển không còn sóng sau. Khi trong công phu mà quý vị đạt được định lực cũng như sóng biển đã lặng yên, khi có được định lực thì nước trí tuệ hiển hiện không còn một gợn sóng chẳng còn một niệm vọng tưởng nào nữa.
Lúc đó là thanh tịnh chân thật, đó là lúc nhứt trần bất nhiễm vạn lượng giai không. Thực vậy, khi một người không còn bị vướng dù chỉ một hạt bụi vô minh thì chẳng còn phải lo nghĩ một điều gì nữa cả. Mọi thứ trên đời này đều là không, đó chính là biểu hiện của đại trí tuệ. Người có trí tuệ thường thành công trong bất kỳ mọi việc, còn người thiếu trí tuệ thường bị thất bại trong bất kỳ việc gì mà họ nhúng tay vào, do vậy nên trí tuệ là vô cùng quan trọng.
Ngu muội là gì? Vô minh chính là ngu muội, ngu muội cũng chỉ là từ vô minh mà ra khi vô minh sinh khởi con người hoàn toàn bị mất sáng suốt. Quý vị hãy hỏi một người vừa mới làm một việc sai lầm xong thì rõ, tại sao anh lại làm việc đó? Họ sẽ trả lời tôi không rõ nữa, đó chính là do ngu muội do sự thiếu sáng suốt thiếu trí tuệ.
Nhưng dù họ hành động mê lầm do vô minh nhưng họ lại không chịu từ bỏ vô minh, họ lại khăng khăng tôi biết chứ tôi biết nó sai mà, thật là quái lạ. Con người mê muội chỉ do vì không có trí tuệ không đạt được đại viên cảnh trí, vì họ không chịu công phu hành trì bảo cảnh thủ nhãn ấn pháp. Nếu họ tu tập ấn pháp này thì sẽ không còn ngu muội nữa, bất luận chuyện gì xảy ra đó là khi phùng quỷ sát quỷ phùng Phật sát Phật.
Đây cũng như việc cầm một cây dao thật bén chặt ngay mọi vọng tưởng vừa lóe lên, đại trí tuệ cũng như một con dao bén hay còn được ví như thanh gươm. Quý vị có thể nói gương trí tuệ rất nặng không dễ gì cầm kiếm ấy được, đó là vì quý vị chưa từng cầm nó. Thật ra sử dụng kiếm này chẳng cần sử dụng chút sức lực nào cả, nếu quý vị chưa từng cầm nó lên thì thấy nó nặng, nếu quý vị đã cầm lên rồi thì thấy nó nhẹ.
Nếu quý vị không chịu cầm lên thì nhẹ biến thành nặng, nếu quý vị chịu cầm lên thì nặng biến thành nhẹ sao vậy? Vì quý vị đã cầm lên rồi. Nếu quý vị nói tôi biết rằng gươm trí tuệ rất quan trọng nhưng quá nặng tôi không thể nhấc lên nỗi, và quý vị không sờ tới gươm thế nên gươm trí tuệ này nặng thật. Nhưng một khi quý vị đã sờ vào kiếm, đã vung gươm lên rồi thì mọi sự hiểu biết đều bén nhọn như lưỡi gươm chẳng còn một chút rắc rối nào nữa cả.
Thế nên tôi thường nói với quý vị rằng mọi việc đều tốt đẹp cả, chính là phát xuất từ đạo lý này. Nếu quý vị gặp nhiều việc rắc rối là vì quý vị không có thanh gươm trí tuệ, nếu quý vị có được thanh kiếm trí tuệ ấy thì sẽ chẳng còn chuyện gì rắc rối nữa cả. Mầu nghiệm là ở điểm này, núi sông đất liền lâu đài nhà cửa thế giới y báo cũng như chánh báo đều không vượt ra ngoài tâm niệm hiện tiền của chúng ta.
Cái gì là thế giới y báo? Núi sông đất liền lâu đài nhà cửa gọi là thế giới y báo, thế giới chánh báo là thân tâm của chúng ta chính là nơi mà con người chúng ta thọ nhận sự báo ứng. Nếu quý vị đã hiểu được sự báo ứng khi chính mình thọ nhận nghĩa là quý vị không còn vô minh nữa, không còn vô minh nghĩa là có trí tuệ. Điều này được ví như tấm gương vật lai tắt ánh vật khứ tắt không, có nghĩa là vật đến liền chiếu vật biến hoàn không.
Tấm gương chẳng lưu giữ dấu vết gì cả, kẻ trí thường thản nhiên với mọi chuyện và cứ để nó trôi qua mà lòng chẳng còn vướng bận điều gì. Mặc dù kẻ trí chẳng lưu giữ điều gì lại trong lòng nhưng mọi vật thường tự hiển bày, và mặc dù nó thường tự hiện bày nhưng chẳng hề bị vướng mắc. Chúng ta là hàng phàm phu chưa có được đại trí tuệ phải nỗ lực vượt bật để thường nhớ trì tụng chú đại bi hoặc thường niệm câu y hê y hê thất na thất na.
Khi đã tụng một lần rồi là không còn quên nữa, đã tụng được hai ba lần vài trăm lần rồi thì chẳng thể nào quên được nữa. Đó là phải cố gắng để ghi nhớ, còn khi quý vị chỉ cần nhìn hoặc nghe lướt qua một lần rồi nhớ mãi không quên chẳng cần phải dụng công ghi nhớ nữa, đó là khi trí tuệ của quý vị chiếu sáng như một đài gương trong. Người có trí tuệ đều biết rằng mọi hiện tưởng đều lưu xuất từ tự tâm của mình, nếu quý vị hiểu được điều này thì mình sẽ không còn tham sân si mạng nghi nữa.
Sao vậy? Vì mọi sự việc đều lưu xuất từ tâm mình nên những thứ vui buồn giận ghét đều là sở hữu của chính mình dù nó tốt hay xấu cũng chẳng có vấn đề gì cả. Mặc dù nói về cảnh giới ấy thì rất dễ nhưng tiếp xúc với cảnh giới ấy không phải dễ dàng gì, cần phải có công phu mới tiếp xúc được với cảnh giới ấy. Những người không có công phu sẽ nói đối với tôi chẳng có vấn đề gì rắc rối cả, bên ngoài thì như thế nhưng vấn đề rắc rối đang phát sinh và chống đối với nhau ở bên trong.
Những người có trí tuệ chân chính thì rất hiếm, quý vị cũng nên phân biệt rõ trí tuệ thế gian và trí tuệ xuất thế gian. Trí tuệ thế gian còn gọi là thế trí biện thông là có thể nhào nặng ngay ra một đạo lý khi nào cần đến, nơi nào không có đạo lý họ có thể tạo dựng ra khiến mọi người nghe rất hợp lý. Những kẻ mê muội nghe họ nói liền nghĩa rằng, oh họ đề cập đến những đạo lý rất đúng. Thực ra, nếu quý vị có được trí tuệ chân chính quý vị sẽ không bị đắm chìm trong mớ lý luận ngu muội của họ.
Người ta thường nói trong dương có âm, cũng vậy trong trí tuệ cũng có sự ngu muội sự ngu muội một cách trí tuệ, mặt khác trong âm có dương bên trong sự ngu muội ẩn chứa một trí tuệ. Chẳng hạn như quý vị có thể thấy một người chẳng nói năng gì cả, dường như là kẻ quê mùa dốt nát nhưng anh ta làm những việc chân chính anh ta có thể hiện thân một kẻ hồ đồ mê muội nhưng luôn luôn ứng xử khế hợp với đạo lý, có rất nhiều người như vậy.
Khi quan sát người khác quý vị sẽ tự chiêm nghiệm ra chính tự thân mình có được trí tuệ sáng suốt hay không. Nếu quý vị có trí tuệ chân chính thì quý vị không bị người khác sai xử dẫn dắt đến chỗ sai lầm, còn nếu quý vị không có trí tuệ quý vị sẽ bị người khác xui khiến làm điều xằng bậy. Trí tuệ và ngu muội của một mối quan hệ trực tiếp đó là hai mặt của một chỉnh thể, vắng bóng vô mình thì trí tuệ hiển bày và vô minh sinh khởi khi thiếu vắng trí tuệ.
Trong vô minh có trí tuệ và chính trong trí tuệ có bóng dáng của vô minh, sao lại như vậy? Vì trí tuệ và vô minh là một, nếu quý vị biết vận dụng thì đó là trí tuệ còn nếu không biết vận dụng thì đó là vô minh. Chẳng hạn như khi quý vị nâng thanh gươm trí tuệ lên thì đó chính là trí tuệ, còn khi quý vị buông thanh gươm ấy xuống thì đó là vô minh, đó không phải là hai mà chỉ là một. Thế nên quý vị đừng bao giờ nói rằng mình đang đi tìm kiếm trí tuệ và đang xua đuổi vô minh.
Không ai làm được việc ấy bao giờ, chủ yếu chỉ là sự hồi đầu. Có thể lấy ví dụ của bàn tay để biểu tượng cho trí tuệ và mặt kia để biểu tượng cho vô minh, nếu quý vị muốn cầm nắm một đồ vật bằng mặt kia của bàn tay thì không thể nào làm được cả, nhưng nếu quý vị dùng chính bàn tay của mình thì mới lấy được đồ vật. Việc không lấy được đồ vật là biểu tượng cho vô minh và sử dụng bàn tay để lấy được vật đó là biểu tượng cho trí tuệ.
Đó là hai khía cạnh của chỉ một ý nghĩa chung nhứt tùy thuộc vào sự vận hành của quý vị. Có người lại nói nay tôi đã hiểu rồi, vô minh và trí tuệ chính là bàn tay của tôi. Lại sai lầm nữa, bàn tay chỉ là ví dụ đừng nên cho rằng trí tuệ và vô minh chính là bàn tay, cũng giống như ví dụ ngón tay và mặt trăng. Trong kinh thủ lăng nghiêm đức Phật lấy ví dụ dùng ngón tay để chỉ cho người thấy mặt trăng, đừng nhằm lẫn ngón tay chính là mặt trăng.
Thất na thất na là đại trí tuệ và còn có nghĩa là hoằng thệ nguyện là phát nguyện rộng lớn, khi muốn hoàn thành một việc phải phát thệ nguyện làm cho đến cùng. Như đức Phật A Di Đà trước khi thành chánh giác khi đang tu tập nhân địa với hình tướng của một tỷ khưu, ngài đã phát 48 lời nguyện rộng lớn, Bồ Tát Phổ Hiền cũng đã phát mười đại nguyện chương, Bồ Tát Quấn Thế Âm cũng phát vô số lời nguyện, cũng như các vị tổ sư đã từng phát nguyện.
Tôi đang giảng cho quý vị nghe về việc phát đại nguyện còn có lập nguyện được hay không là do ở quý vị, tôi đưa đề tài này ra giảng vì tôi đoán chắc là quý vị chưa được thông hiểu nhưng không phải là tôi bắt buộc quý vị phải phát nguyện. Nay quý vị đang tu học Phật pháp, mỗi người nên tự mình lập hạnh nguyện càng lớn càng tốt, lập nguyện càng lớn thì sự thành tựu càng cao. Hiện nay chúng ta đều đang tu nhân và chưa ai thành Phật cả.
Chúng ta nên phát lời nguyện ở nơi nhân địa mà tu hành, mỗi người nên viết ra lời nguyện của mình thật chi tiết đừng phát nguyện một cách hời hợt qua loa cho có chuyện mà phải thiết thực như, con nguyện cứu độ tất cả mọi loài chúng sinh. Thật chứ, làm sao quý vị có thể độ chúng sinh được khi suốt ngày quý vị cứ tìm mọi cách để được ăn ngon mặc đẹp ở nơi xa hoa tráng lệ.
Việc cứu độ chúng sinh trước hết chính là độ chúng sinh nơi cái miệng chuyên nói lời vọng ngôn của quý vị, độ cái bụng ham ăn, độ cái thân ham thích sung sướng của chính mình trước đã. Cho nên quý vị phải thẳng thắn và minh bạch trong khi phát nguyện, hiện tại mình phát nguyện gì tương lai sẽ ra sao?
Như ở trong quá khứ chúng ta có thể quên lãng những gì đã từng ứng dụng tu hành, nhưng trong tương lai chúng ta sẽ thực hành điều gì. Mỗi người Phật tử đều phải nên có lời phát nguyện, nay ở trong nhân địa lời phát nguyện càng lớn thì trong tương lai kết quả sẽ càng cao. Nếu quý vị đặt tất cả nguyện lực của mình vào một lỗ chân lông thì quý vị có thể phát một thệ nguyện lớn ngay từ trong một lỗ chân lông.
Phát nguyện là một lời hứa thiên liên mà mỗi người Phật tử đều nên thực hiện, phát nguyện rất quan trọng vì không có nó cũng như không có người hướng dẫn, giống như đi đường mà không biết mình sẽ đi hướng nào, chẳng biết nên rẽ phải hay nên quẹo trái để đến đích. Nếu quý vị phát nguyện cũng như khi du lịch có người hướng dẫn đường đi và nơi đến. Tại sao chư Phật và chư Bồ Tát đều phát nguyện khi tu đạo?
Vì khi đã phát nguyện rồi mình mới tự mình hành động tương ứng với nguyện đã lập. Ví dụ như Bồ Tát Địa Tạng khi tu hành ở nhân địa, ngài đã phát lời nguyện vĩ đại, địa ngục vị không thệ bất thành Phật chúng sinh độ tận phương chứng bồ đề, nghĩa là chúng sinh độ hết mới chứng bồ đề, địa ngục nếu còn con chưa thành Phật. Nguyện lực này cực kỳ vĩ đại, chúng ta cũng nên phát nguyện, mỗi quý vị nên phát một hạnh nguyện phù hợp với những gì hằng ngày quý vị thích làm.
Trang KinhÁnh Sáng Hậu Học
- Chư Phật Tiếp Dẫn
- Gặp Được Bạn Lành
- Sinh Ở Cung Điện
- Diệt Trừ Ác Thú
- Quyến Thuộc Hòa Thuận
- Phạm Âm Nhiệm Mầu
- Hàng Phục Oán Địch
- Cuộc Sống Giàu Sang
- Được Người Kính Yêu
- Chẳng Thọ Bào Thai
- Trị Bệnh Nhiệt Độc
- Sai Khiến Tôi Tớ
- Hương Thơm Bạch Liên
- Sai Khiến Quỷ Thần
- Hàng Phục Ma Oán
- Chư Phật Xoa Đầu
- Hàng Phục Quỷ Thần
- Hàng Phục Ma Thần
- Trị Bệnh Trong Bụng
- Ở Bên Đức Phật
- Học Rộng Nghe Nhiều
- Gia Đình An Ổn
- Trừ Tánh Sợ Hãi
- Trị Bệnh Mắt Mờ
- Thành Tựu Biện Tài
- Tâm Không Thoái Lui
- Tiêu Trừ Chướng Nạn
- Đuổi Giặc Xâm Lăng
- Thăng Quan Tiến Chức
- Diện Kiến Chư Phật
- Triệu Hồi Thiện Thần
- Kho Trong Lòng Đất
- Cây Trái Ngũ Cốc
- Hữu Tình No Đủ
- Sanh Về Tịnh Độ
- Cầu Tâm Từ Bi
- Được Trí Tuệ Lớn
- Lìa Nạn Quan Quyền
- Trị Bệnh Trên Thân
- Thành Tựu Đạo Tiên
- Thiên Thần Ủng Hộ
- Sinh Cõi Phạm Thiên
Ý Nghĩa
Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da.
Hậu Học
Chú đại bi hòa thượng Thích Tuyên Hoá giảng giải. Xem kinh với lòng thành, kẻ hậu học khi xem kinh nên có tâm thái như sau, ba nghiệp tâm khẩu ý phải được thanh tịnh, ba nghiệp trên được lắng trong thì phước huệ tròn đầy.
Công Năng
Nghĩa là thần chú đại bi có công năng thông cả thiên đường thấu cả địa phủ, người nào thường trì niệm chú này mỗi ngày 108 biến niệm ngàn ngày như thế thì có thể khiến thập điện Minh Vương hoan hỉ.
Quy Mạng
Nam mô phiên âm chữ nama từ tiếng Phạn, trung hoa dịch là quy y cũng dịch là quy mạng kính đầu có nghĩa là con xin đem toàn thể sinh mạng của con về nương tựa vào chư Phật.
Kính Lễ
Nam mô a rị da, nam mô nghĩa là đem hết thân tâm tính mạng quy y và kính lễ học tập chư Phật và chư Bồ Tát, a rị có nghĩa là thánh giả có nghĩa là người xa lìa tất cả các ác Pháp nên nam mô a rị da có nghĩa là kính lễ các bậc thánh giả người đã xa lìa tất cả các Pháp bất thiện.
Quan Sát
Ý nghĩa toàn câu là quán chiếu quán sát một cách rộng khắp và tự tại, đó chính là ý nghĩa của danh hiệu Bồ Tát Quán Tự Tại Bồ Tát Quán Thế Âm, có nghĩa là quan sát lắng nghe âm thanh ở cõi thế gian để cứu độ một cách tự tại.
Đảnh Lễ
Đảnh lễ các vị Bồ Tát đã tự giác ngộ giải thoát cho chính mình rồi còn giúp cho người khác được giác ngộ giải thoát.
Phát Tâm
Ma ha với nghĩa là đại tức chỉ cho người phát tâm bồ đề rộng lớn, ma ha với nghĩa là đa tức chỉ cho số lượng có rất nhiều người phát tâm bồ đề, ma ha với nghĩa là thắng tức nói đến những người đã phát tâm bồ đề rộng lớn đều đạt đến chỗ thành tựu viên mãn được nhiều lợi lạc rất thù thắng.
Thần Chú
Ma ha có ba nghĩa lớn nhiều và thù thắng như trên đã giảng, ca lô hán dịch là bi, ni ca nghĩa là tâm, hợp lại ma ha ca lô ni ca có nghĩa là tâm đại bi, da có nghĩa là đảnh lễ như đã giảng ở trên, toàn câu chú ma ha ca lô ni ca da có nghĩa là cuối đầu đảnh lễ thần chú đại bi tâm Đà La Ni.
Chư Phật
Mẹ của chư Phật có nghĩa là Mẹ của nguồn tâm trong mọi loài chúng sinh vì nguồn tâm của chúng sinh vốn sẵn có mọi trí tuệ, thường xuất sinh các pháp lành nên gọi là bổn Mẫu.
Xưng Tán
Nguyên câu chú này có nghĩa là tự tại thế tôn tự tại thánh tôn tức là đức Phật tự tại ý là xưng tán Phật bảo.
Biểu Tượng
Đát na là biểu tượng của Pháp bảo, đát tả là biểu tượng cho Tăng bảo cho nên toàn thể câu chú án tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tả là biểu tượng cho Tam Bảo.
Cái Ngã
A lị da ở trên đã giảng qua có nghĩa là thánh giả, ở đây tức là phải hết lòng đảnh lễ cái ngã ấy của thánh giả.
Tự Tại
Bà lô kiết đế thất Phật ra là Quán Thế Âm cũng chính là Quán Tự Tại, hai danh hiệu này không nhất định phải là Bồ Tát Quán Thế Âm mới được gọi là Quán Tự Tại hay Quán Thế Âm mà nếu khi quý vị đã đạt được tự tại rồi thì quý vị chính là Bồ Tát Quán Tự Tại.
Thiện Hộ
Na ra cẩn trì hán dịch là hiền ái thiện hộ có liên quan đến nghĩa thứ nhất nghĩa thứ sáu và nghĩa thứ mười trong mười loại tâm, đó chính là tâm đại bi tâm cung kính và tâm vô thượng bồ đề.
Ánh Sáng
Nguyên câu hê rị ma ha bàn đà sa mế có nghĩa là tâm đại quang minh, nghĩa là ánh sáng của tâm lực quang minh của tâm lực thường chiếu rộng khắp mãi mãi siêu việt cả không gian vô cùng thời gian vô tận, từ một vi trần cho đến vô cùng vô tận thế giới đều có sự hiện hữu của ánh sáng ấy.
Vô Minh
Sao gọi là vô minh? Vì tâm của quý vị không có được sự tỏa chiếu soi sáng khắp mọi pháp giới. Do vì quý vị không có được đại quang minh, nếu quý vị có được đại quang minh thì tâm quý vị liền có được sự tỏa chiếu soi sáng khắp mọi pháp giới, có nghĩa là quý vị đã chuyển hoá được vô minh.
Nợ Vay
Tại sao người lại trở lại làm người? Là để trả nợ, trả những món nợ nhân quả ở thế gian. Nếu quý vị không tìm cách trả món nợ này thì nợ nần vẫn tiếp tục như món nợ đã vay của ngân hàng vậy.
Điểm Khác
Việc làm của Bồ Tát cũng gần như hành xử của người thường nhưng thực chất là không giống nhau, là vì phàm phu khi hành động chỉ nghĩ đến lợi ích của chính mình không nghĩ đến sự giúp đỡ cho người khác, còn Bồ Tát thì chỉ nghĩ đến lợi ích của người khác mà không nghĩ đến mình, khác nhau là ở điểm này.
Phú Lạc
Câu chú này chia làm ba phần khi trì tụng lên câu chú có ba nghĩa khác nhau, tát bà có nghĩa là tất cả còn có nghĩa là bình đẳng nên tát bà biểu tượng cho ý thứ hai trong mười tâm là bình đẳng tâm, a tha đậu dịch nghĩa là phú lạc vô bần giàu có an lạc không nghèo nàn về tâm linh đạo lý Phật pháp còn dịch nghĩa là như ý bất diệt.
Loạn Tâm
Câu chú này biểu tượng cho tâm thứ bảy được gọi là ti hạ tâm, là tâm rất cung kính và tùy thuận bất kỳ người nào mình gặp. Câu chú này còn biểu tượng cho tâm thứ tám gọi là vô tạp loạn tâm.
Thân Tâm
Tát bà tát đá là tiếng Phạn dịch là đại thân tâm Bồ Tát, na ma bà tát đa hán dịch là đồng trinh khai sĩ là tên gọi khác của Pháp Vương Tử cũng là hàng Bồ Tát.
Thỉnh Nguyện
Ma phạt đạt đậu. Ma phạt đạt đậu dịch nghĩa là thiên thân thế hữu, câu chú này có nghĩa là kính lạy chư Bồ Tát, xin hãy mủi lòng từ bi cứu giúp con xin các ngài hãy là thân quyến ở cõi Trời của chúng con và là người bạn ở cõi thế gian này của chúng con để hộ trì cho mọi thiện pháp được thành tựu. Câu chú này thỉnh nguyện sự gia trì của mười phương chư Phật và chư Bồ Tát.
Kết Ấn
Đát điệt tha còn có nghĩa là thủ ấn nghĩa là kết ấn bằng tay cũng gọi là trí nhãn, nghĩa là khai mở con mắt trí tuệ của chúng sinh.
Trí Tuệ
A bà lô hê, a bà lô hê chính là Bồ Tát Quán Thế Âm có nghĩa là quán sát, dùng trí tuệ để quán sát mọi âm thanh ở thế gian. Trong thế gian có nhiều loại âm thanh, Bồ Tát Quán Thế Âm quán sát âm thanh tiếng kêu than cầu xin cứu khổ của người ở thế gian khi họ không thể vượt qua nỗi những khổ nạn.
Danh Hiệu
Lô ca đế, lô ca đế nghĩa là tự tại hoặc là Thế Tôn, hợp lại hai câu trên a bà lô hê lô ca đế nghĩa là Bồ Tát dùng trí tuệ để quán sát âm thanh ở thế gian chính là danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm.
Rộng Lớn
Ca ra đế, ca ra đế dịch là bi giả là người có lòng từ bi rộng lớn thường cứu giúp chúng sinh thoát khỏi khổ đau và thất vọng, người mà có thể cứu giúp cho chúng sinh vơi bớt khổ đau là một người đại bi.
Thực Hành
Di hê lị dịch nghĩa là thuận giáo, khi quý vị trì tụng đến câu chú này nghĩa là quý vị tự phát nguyện con nhất quyết thực hành theo hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm sẽ giáo hóa cho tất cả chúng sinh, con nguyện nương theo giáo pháp ngài đã dạy mà tu hành.
Giác Ngộ
Ma ha có nghĩa là đại là to lớn, bồ đề có nghĩa là giác đạo là giác ngộ được đạo lý chân chính, tát đỏa hán dịch là đại dũng mãnh giả, câu này có nghĩa chư vị Bồ Tát là người phát tâm đại bồ đề rất dũng mãnh và phát tâm tu hạnh bồ đề.
Lợi Lạc
Tát bà tát bà, tát bà tát bà hán dịch là nhất thiết lợi lạc, câu chú này bao hàm cả bảo thủ nhãn ấn pháp nghĩa là mang đến mọi thứ lợi lạc cho mọi người. Bằng cách hành trì ấn pháp này quý vị có khả năng đem sự an vui lợi lạc đến cho hết thảy mọi loài chúng sinh, Thiên Vương Diêm Vương Quỷ Vương đều chấp hành theo người trì tụng ấn chú này.
Tùy Thuận
Như ý nghĩa là tùy thuận với tâm nguyện mà được đáp ứng, quý vị có thấy lợi ích vô biên của ấn pháp này không? Vì vậy nên công năng ấn pháp này là thứ nhất trong 42 thủ nhãn ấn pháp.
Phi Thường
Đây là ngũ sắc vân thủ nhãn, khi kiết ấn này sẽ làm lưu xuất ra mây lành ngũ sắc và hành giả sẽ đạt được năng lực tự tại phi thường, diệu dụng và năng lực tự tại của ấn pháp này thật là vô lượng vô biên.
Lợi Người
Kiết mông là tiếng Phạn hán dịch là biện sự cũng dịch là công đức, có nghĩa là làm tất cả mọi việc có công đức lợi lạc cho mọi người, làm việc lợi lạc công đức cho mọi người cũng chính là tạo công đức cho chính mình.
Biển Khổ
Đồ lô đồ lô hán dịch là độ hải nghĩa là vượt qua biển khổ sinh tử còn dịch nghĩa minh tịnh, khi đã vượt qua biển khổ sinh tử rồi quý vị sẽ đạt được trí tuệ sáng suốt chứng nhập bản thể thanh tịnh đến được bờ bên kia, tức thể nhập Niết Bàn.
Tất Cả
Ma ha phạt xà da đế. Câu chú này có nghĩa là tối thắng đại Pháp Đạo, pháp là quảng đại tối thắng và đạo cũng quảng đại tối thắng. Pháp Đạo là chân lý vượt lên trên tất cả mọi sự thù thắng nhất trên đời, đây là bảo kích thủ nhãn ấn pháp.
Tai Nạn
Bất luận ai gặp khổ nạn hay bệnh tật gì nếu được Bồ Tát Quán Thế Âm rưới nước cam lồ thì đều thoát khỏi tai nạn ấy. Đà la đà la hán dịch là năng tổng trì ấn là tâm lượng của toàn chúng sinh chính là Bồ Tát Quán Thế Âm dùng cam lồ thủ nhãn ấn pháp tịnh bình thủ nhãn ấn pháp và dương chi thủ nhãn ấn pháp, tất cả ba ấn pháp ấy để rưới nước cam lồ lên toàn thể chúng sinh cứu độ chúng sinh ra khỏi tam đồ lục đạo.
Ác Pháp
Thứ nhất là thặm dũng nghĩa là dũng khí mãnh liệt cũng có nghĩa là tịch diệt hoặc khiết tịnh, thặm dũng là vạn tướng động, tịch diệt là vạn tĩnh còn dịch là gia trì và thôi khai, gia trì có nghĩa là làm cho các ác pháp đều được chuyển hóa hướng về phụng hành theo thiện pháp, thôi khai là làm cho các nghiệp chướng tai nạn của chúng sinh đều được tiêu trừ.
Thâm Sâu
Thất Phật ra da được dịch là phóng quang còn dịch là tự tại, phiên âm từ tiếng Phạn isara như trong chữ avalokiteshvara ở đây có nghĩa là quán, vì có quán chiếu thâm sâu rồi mới được tự tại. Nếu quý vị không có sức quán chiếu thâm sâu thì quý vị sẽ không đạt được năng lực tự tại.
Mệnh Lệnh
Dá ra dá ra, dá ra dá ra dịch nghĩa là hành động đó là hành động như quân đội thi hành một mệnh lệnh hành quân, hành quân là một mệnh lệnh nếu quý vị không tuân hành có nghĩa là chống lệnh.
Thành Tựu
Mạ mạ phạt ma ra, mạ mạ hán dịch là ngã sở thọ trì đó chính là một loại mệnh lệnh hành động có nghĩa là mọi việc tôi làm bảo đảm chắc chắn phải được thành tựu, mạ mạ là bạch phất thủ nhãn ấn pháp.
Giải Thoát
Mục đế lệ còn dịch nghĩa là giải thoát đó là giải thoát khỏi mọi khổ nạn bệnh tật và chướng ngại, nên Bồ Tát Quán Thế Âm thường dùng dương chi thủ nhãn ấn pháp này để giúp giải thoát cho chúng sinh khỏi mọi bệnh tật khổ nạn và những điều bất như ý.
Ước Nguyện
Y hê y hê, y hê y hê là độc lâu trượng ấn thủ nhãn ấn pháp hán dịch là thuận giáo, nghĩa là một khi quý vị nhờ ai làm việc gì đó họ đều ưng thuận, khi quý vị dùng chánh pháp để giáo hóa họ đều vâng lời. Câu chú này còn dịch là tâm đáo nghĩa là trong tâm hành giả ước nguyện điều gì nhờ năng lực của chú này đều được thành tựu.
Pháp Vương
A ra sâm dịch là chuyển luân Pháp Vương tức là vị đại Pháp Vương thường chuyển bánh xe đại pháp thường tuyên thuyết diệu nghĩa đại thừa, giáo nghĩa này thậm thâm vi diệu không ai có thể giảng nói tường tận được nhưng hiện nay quý vị nên được nghe giảng giải kinh chi tiết rõ ràng.
Hoan Ngữ
Phạt sa phạt sâm, phạt sa phạt sâm dịch là hoan ngữ hoan tiếu có nghĩa là rất hoan hỉ khi giảng nói, còn dịch nghĩa là đại trượng phu và vô thượng sĩ. Đây là bảo cung thủ nhãn ấn pháp, khi hành trì thành tựu ấn pháp này nếu là người tại gia thì có thể được làm quan cận thần, người xuất gia có thể chứng được quả vị A La Hán.
Đức Phật
Ở câu trên Phật ra xá lợi, xá lợi dịch nghĩa là Giác Thân Tử còn trong câu Phật ra xá da, xá da dịch là tượng con voi nghĩa là khi quý vị đã giác ngộ rồi thì tâm thể quý vị được ví như một con voi chúa còn được gọi là Pháp Vương Tử, quý vị có thể là Pháp Vương tối cao trong tất cả các pháp môn, nói chung ý nghĩa của câu chú này là tâm giác ngộ như một Tượng Vương cao quý. Phật ra xá da là nói về bổn thể của đức Phật A Di Đà, đức Phật A Di Đà là bổn sư cũa Bồ Tát Quán Thế Âm.
Được Nguyện
Đây là kim trọc ngọc hoàn thủ nhãn ấn pháp trong 42 ấn pháp, khi hành giả hành trì 42 thủ nhãn ấn pháp này được gọi là tác pháp như ý nghĩa là tùy theo tâm nguyện đều được như ý, khi hành giả tu tập thành tựu ấn pháp này rồi thì mọi việc đều được như tâm nguyện nên gọi là như ý.
Năng Lực
Nếu hành giả không khởi niệm tức là không còn vọng tưởng, do vì hành giả không còn vọng tưởng nên đạt được khả năng tác pháp tự tại và trở thành người có năng lực quán tự tại.
Hàng Phục
Ta ra ta ra dịch là kiên cố lực, là thần lực rất mạnh mẽ không một thứ gì có thể lay chuyển được. Kiên cố lực này có thể phá hủy và hàng phục tất cả loài thiên ma ngoại đạo, đây là kim cang xử thủ nhãn ấn pháp.
Chướng Ngại
Thứ nhất là dũng mãnh như trong chiến trận, người dũng mãnh là luôn luôn chiến thắng không hề bị đánh bại. Nghĩ thứ hai là thù thắng nghĩa là vượt lên trên tất cả sự hoàn hảo không bao giờ bị thất bại. Thứ ba nghĩa là cát tường, vì khi hành giả có được sự dũng mãnh mới có được sự thắng vượt mọi chướng ngại mới có được sự cát tường.
Dược Thủy
Tô rô tô rô hán dịch là cam lồ thủy, đây cũng chính là cam lồ thủ nhãn ấn pháp. Trước đây tôi đã giảng về diệu dụng của nước cam lồ rồi, có thể giúp cho các loại quỷ đói được no đủ và mọi tâm nguyện đều được như ý, làm tiêu tan mọi sự đói khát thọ nhận được nhiều điều tốt lành khác nữa. Nước cam lồ này còn gọi là bất tử dược, nếu có người sắp chết uống nước cam lồ này thì sẽ được sống lại nhưng không dễ gì gặp được nước cam lồ này nếu không có duyên lành.
Giác Đạo
Bồ đề dạ hán dịch là giác đạo, muốn thành tựu giác đạo thì trước hết quý vị phải có được giác tâm, nếu không có giác tâm thì không thể nào tu tập để thành tựu đạo giác ngộ. Hành giả trước hết phải có tâm liễu ngộ chân thật rồi mới có thể tu tập đến chỗ thành tựu đạo nghiệp được.
Hiểu Biết
Cầu chú này với câu trước giống nhau chỉ khác âm giữa, bồ đà dạ hán dịch là trí giả và giác giả. Trí là hiểu biết chân chính là trí tuệ, giác là sự tỉnh thức, người có được sự hiểu biết chân chính là người đã giác ngộ đích thực và có được trí tuệ.
Đại Từ Bi
Di đế rị dạ, di đế rị dạ hán dịch là chánh lượng cũng dịch là đại lượng, nghĩa là số lượng rất nhiều không đếm được, còn dịch là đại từ bi tâm nghĩa là tâm từ bi quá rộng lớn không có ngành mé. Tâm từ bi này bảo hộ che chở cho tất cả mọi loài chúng sinh và giúp cho họ được an vui, khiến cho chúng sinh thể nhập với bản tâm của mình thoát khỏi sợ hãi và tránh xa mọi tai ương.
Thánh Hiền
Na ra cẩn trì, na ra cẩn trì hán dịch là hiền ái hoặc là hiền thủ cũng dịch là thiện hộ thiện đảnh, nghĩa là người đứng đầu trong các bậc thánh hiền. Họ là thượng thủ, là bậc khéo tìm cách bảo bọc che chở cho chúng sinh, khéo độ thoát cho chúng sinh đến quả vị tối cao.
Mọi Loài
Trước đây khi giảng về 42 thủ nhãn ấn pháp tôi có nói rằng ấn pháp này có công năng hàng phục mọi loài li mị vọng lượng. Khi quý vị tu tập thành tựu ấn pháp này rồi, tất cả các loại thiên ma ngoại đạo li mị vọng lượng đều ngoan ngoãn quy phục bởi vì họ sợ ấn pháp bảo kiếm này của hành giả.
Thiện Hữu
Thứ nhất là danh văn nghĩa là tên của hành giả được lưu truyền khắp mười phương thế giới, nghĩ thứ hai là hỉ xưng là mười phương thế giới đều vui mừng khen ngợi công đức của hành giả, thư ba là thành danh nhất thiết nghĩa thành tựu có nghĩa là mọi danh tiếng mọi công hạnh đều được thành tựu thật nghĩa và rốt ráo. Đây là bảo tiễn ấn pháp, nếu quý vị hành trì ấn pháp này thành tựu sẽ liền gặp được thiện hữu tri thức.
Sở Nguyện
Nghĩa thứ nhất là thành tựu, khi trì niệm câu chú này tất cả sở cầu sở nguyện của hành giả đều được thành tựu, nếu quý vị chưa có được sự cảm ứng khi hành trì là do vì tâm chưa đạt đến sự chí thành. Nếu quý vị có tâm chí thành và có niềm tin kiên cố thì chắc chắn sẽ được thành tựu.
Nghe Nhớ
Cả hai câu chú hợp lại, tất đà dạ ta bà ha ma ha tất đà dạ ta bà ha là bảo kinh thủ nhãn ấn pháp, bảo kinh là sự quý giá vô ngàn của kinh điển chính là pháp bảo. Nếu quý vị tu tập ấn pháp này thì sẽ đạt được lợi lạc vô cùng vô tận. Trong tương lai trí tuệ và sức ghi nhớ của quý vị sẽ rất tinh anh, nghĩa là có được khả năng bác văn cường ký nghe nhiều nhớ kỹ.
Châu Báu
Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ ta bà ha. Tất đà hán dịch là thành tựu lợi ích, du nghệ hán dịch là vô vi còn gọi là hư không, thất bàn ra dạ hán dịch là tự tại. Đây là bảo khiếp thủ nhãn ấn pháp, hành giả thành tựu ấn pháp này có thể sử dụng lấy tất cả các thứ châu báu ẩn giấu trong lòng đất để làm lợi ích cho chúng sinh. Ý của câu chú này nói rằng ở nơi thể tánh mà thường được tự tại và thành tựu vô lượng công đức.
Che Chở
Na ra cẩn trì ta bà ha. Na ra cẩn trì hán dịch là ái hộ nghĩa là thường nỗ lực bảo bọc che chở tất cả chúng sinh, câu chú này cũng mang ý nghĩa đại từ bi. Đây là bảo bình thủ nhãn ấn pháp.
An Vui
Ma ra na ra ta bà ha. Ma ra hán dịch là như ý, na ra hán dịch là tôn thượng. Đây là quyết sách thủ nhãn ấn pháp, ấn pháp này có công năng mang lại sự an vui như ý đến cho hành giả, khiến cho các thứ bệnh tật chướng nạn đều được tiêu trừ. Quyết sách thủ nhãn ấn pháp có rất nhiều diệu dụng, hành giả có thể kết một sợi dây ngũ sắc rồi hành trì quyết sách ấn pháp vào sợi dây ấy.
Thông Thạo
Tất ra tăng a mục khư da ta bà ha. Tất ra tăng hán dịch là thành tựu ái hộ nghĩa là thường đem hết sức mình để bảo hộ che chở cho tất cả chúng sinh. A mục khư da hán dịch là bất không bất xả, bất không có nghĩa là hữu nhưng đây có nghĩa là diệu hữu, bất xả có nghĩa là bất xả nhất pháp không từ bỏ một việc gì phải thông thạo tất cả các pháp.
Lòng Thương
Ta bà ma ha a tất đà dạ ta bà ha. Như quý vị đã biết thế giới chúng ta đang sống là thế giới ta bà, ta bà có nghĩa là kham nhẫn còn được dịch là nhẫn ái còn dịch là thiện thuyết thiện đáo. Kham nhẫn có nghĩa là chúng sinh như chúng ta khó có thể chịu đựng nổi những sự thống khổ ở cõi giới ta bà này, nhẫn ái có nghĩa là chúng sinh thế giới ta bà này không những có thể chịu đựng mọi khổ đau mà còn sanh khởi lòng thương yêu mọi loài nữa.
Sấm Sét
Khi quý vị hành trì thành tựu được ấn pháp này rồi thì sấm sét sẽ vang rền khi quý vị sử dụng ấn pháp, và tiếng vang của nó sẽ hàng phục được tất cả các loài ma oán. A tất đà dạ hán dịch là vô tỷ thành tựu, hành giả trì chú này sẽ được thành tựu công đức rất lớn không có gì so sánh được, cho nên mới khiến cho các loài ma oán đều quy đầu phục thiện.
Cõi Trời
Ba đà ma kiết tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma hán dịch là hồng liên hoa, kiết tất đà dạ hán dịch là thiện thắng. Hồng liên hoa này là siêu việt tất cả mọi loài và thành tựu vô lượng công đức, khi quý vị tu tập hồng liên hoa thủ nhãn ấn pháp này thành tựu rồi nếu quý vị muốn sinh ở cõi Trời thì ước nguyện ấy rất dễ thành tựu như ý.
Không Sợ Hãi
Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì hán dịch là hiền thủ, hiền là thánh hiền thủ là giữ gìn canh giữ hộ trì. Bàn đà ra dạ dịch nghĩa là Quán Thế Âm Quán Tự Tại. Đây là thí vô úy thủ nhãn ấn pháp mà Bồ Tát Quán Thế Âm thường dùng để cứu độ chúng sinh, giúp cho mọi loài không còn sợ hãi trong mọi lúc mọi nơi.
Anh Hùng
Đức hạnh của đại anh hùng chính là do hành trì tổng nhiếp thiên tý thủ nhãn ấn pháp. Ấn pháp này có công năng hàng phục mọi loài ma oán không chỉ ở thế giới này mà khắp cả đại thiên thế giới. Hành giả tu tập ấn pháp này nên biết đây là ấn pháp quan trọng nhất trong tất cả 42 ấn pháp, vì khi hành trì ấn pháp này thì tất cả 42 ấn pháp kia đều có đủ trong ấn pháp này.
Quy Y
Nếu tôi giảng chưa rõ quý vị cứ hỏi tôi ngay tức khắc, vì cách tôi giảng kinh hoàn toàn khác với các pháp sư, tôi không dùng tài liệu hoặc các luận giải. Nam mô có nghĩa là quy y, quy y gì? Con xin quy y Tam Bảo. Hắc ra đát na có nghĩa là bảo quý báu, đá ra dạ dịch là tam nghĩa là ba. Toàn câu nghĩa là con nguyện quy y Tam Bảo, con nguyện đen cả thân tâm tánh mạng để quy y, như những Phật tử tại gia đã quy y Phật quy y Pháp quy y Tăng đó là quy y Tam Bảo.
Thánh Tăng
Nam mô a rị da. Nam mô hán dịch là quy y, a rị da hán dịch là thánh giả cũng có nghĩa là thánh hiền. Câu chú này thể hiện sự quy y với tất cả các hiền thánh tăng.
Bồ Tát
Bà lô kiết đế, bà lô kiết đế hán dịch là quán. Thước bàn ra dạ, thước bàn ra dạ hán dịch là tự tại. Toàn câu bà lô kiết đế thước bàn ra dạ có nghĩa là quán tự tại tức là Bồ Tát Quán Thế Âm. Ta bà ha, Bồ Tát Quán Tự Tại đã thành tựu tất cả mọi công đức, ta bà ha có nghĩa là thành tựu công đức vô lượng vô biên.
Kiết Giới
Án tất điện đô. Nay phần kinh văn của thần chú đã được tụng rồi, tiếp theo là phần chân ngôn. Thông thường có chữ án luôn luôn dẫn đầu cho phần chân ngôn này nên chữ án mang y nghĩa dẫn sinh nghĩa. Tất nghĩa là thành tựu, điện đô hán dịch là ngã giới là đạo tràng lãnh thổ cương vực của mình đã được kiết giới thành tựu.
Tùy Theo
Tùy theo tâm nguyện mà đều được như ý toại tâm viên mãn. Nếu quý vị có niềm tin chí thành thì thấy rất là mầu nhiệm còn nếu quý vị không tin là vì quý vị chẳng thích thú gì với những điều mầu nhiệm như trên.
Thệ Nguyện
Ta bà ha, ta bà ha dịch là thành tựu, thành tựu điều gì? Thành tựu mọi thệ nguyện của hành giả, bất luận quý vị phát tâm nguyện gì quý vị sẽ đạt được như ý khi niệm án tất điện đô mạn đà ra bạt đà dạ ta bà ha. Những vị khi làm lễ thế phát xuất gia cũng trì niệm câu chú này, có nghĩa là ước nguyện việc xuất gia tu học Phật pháp sẽ được như ý tựu thành viên mãn.